Bệnh sợ người tài
Từ khi thống nhất đất nước, trên thực tế bên cạnh những kết quả cần khẳng định công tác tổ chức nhân sự đã biểu hiện không ít hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân. Những hạn chế đó đã dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”, nhiều người tài rời bỏ khu vực công sang khu vực tư hoặc ra nước ngoài làm việc... Thực tế này đòi hỏi một chiến lược quốc gia về nhân tài để tạo sự chỉ đạo thống nhất và triển khai có hiệu quả công tác quan trọng này.
Những tư tưởng lớn về đào tạo, sử dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh từng được nêu rõ trong bài “Nhân tài và kiến quốc” ký tên Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc (tiền thân của báo Đại Đoàn Kết) số 91, ngày 14-11-1945. Người viết: “Nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của nhân dân là rất cao. Nay muốn giữ vững nền độc lập thì chúng ta phải đem lòng hăng hái đó vào con đường kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi. Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài của nước ta dù chưa có nhiều lắm, nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển thêm nhiều”. Chính sách thu hút nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được các tầng lớp trí thức Việt Nam hưởng ứng sôi nổi. Với tấm lòng chân thành chiêu hiền đãi sĩ, Người đã quy tụ được anh tài bốn phương chiến đấu dưới lá cờ đại nghĩa của dân tộc. Những bậc nhân sĩ, trí thức tài giỏi như Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Tố, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Huyên, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Tạ Quang Bửu, ... đã tình nguyện đi theo lời kêu gọi của Người, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Lúc bấy giờ đất nước còn nghèo, Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng có gì “đãi sĩ”, nhưng vì Người có tấm lòng và cái tâm trong sáng, nên đã chiêu được nhiều người hiền tài.
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, nhận thức rõ tầm quan trọng, tính cấp thiết của nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhân tài, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp trong việc xây dựng Chiến lược quốc gia về nhân tài. Song, để Chiến lược này có tính khả thi và hiệu quả cần phải có những nghiên cứu sâu về cả lý luận và thực tiễn để xác định những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc xây dựng Chiến lược. Đề tài nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn của Chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Ban Tổ chức Trung ương cũng nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu sâu và toàn diện đó. Góp ý với đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước này, nhiều ý kiến cho rằng, vấn đề bồi dưỡng, phát hiện và trọng dụng nhân tài không phải lần đầu được bàn, nhất là ở những cơ quan chuyên môn về tổ chức - cán bộ (như Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ). Cho nên, mong mỏi chung của nhiều người là phải có một sự thay đổi mạnh mẽ, phải đề ra được chiến lược có tính khả thi và sát thực tiễn. “Ta đang thảo luận chuyện trọng dụng nhân tài trong một bối cảnh bức xúc, nhưng đây không phải lần đầu tiên bàn thảo những chuyện này. Vậy nhưng có một câu hỏi chưa được trả lời, đó là tại sao bàn bạc nhiều mà mọi thứ vẫn trên bàn nghị sự, vẫn là nỗi băn khoăn của những người thuộc giới trí thức”, ông Đỗ Hoài Nam (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) bày tỏ sự bức xúc. Quan tâm hơn đến thực tiễn khả thi của các giải pháp, có ý kiến cho rằng, mấu chốt nhất là những người đứng đầu thực tâm muốn sử dụng người tài, với một thái độ cầu thị và cái tâm trong sáng, không đố kỵ. Chỉ như vậy mới tạo được môi trường cho người tài cống hiến. Đặc biệt, nhiều người tài với cá tính mạnh, không chấp nhận cách đánh giá cán bộ qua bỏ phiếu lấy ý kiến hay cầu cạnh, xin xỏ. Vì thế, người đứng đầu phải có thái độ thực sự trọng thị và có tầm nhìn xa, trông rộng.
Cần phải nhận thức rõ rằng nước ta nghèo, chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, thiên tai; tài nguyên khoáng sản khan hiếm; khoa học - kỹ thuật lại mới phát triển, vì thế con người mới chính là tài sản vô giá, là động lực quan trọng nhất để từng bước đưa nước ta thoát khỏi nghèo đói. Là người Việt Nam, chắc hẳn ai cũng tự hào khi đọc Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, trong đó có câu về nhân tài đất Việt: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau. Song hào kiệt đời nào cũng có”. Vì sao một đất nước mà “hào kiệt đời nào cũng có” lại nhiều năm lâm vào cảnh đói nghèo, lạc hậu, chỉ so với một số nước trong khu vực thôi cũng thấy rất đáng buồn. Việc sử dụng “nhân tài đất Việt” nhiều năm đang diễn ra một nghịch lý là trong khi hầu hết ở các ngành công nghệ cao, các cơ quan nghiên cứu hàng đầu trên thế giới đều có sự đóng góp của trí tuệ Việt, thế nhưng ở trong nước thì vẫn còn không ít người tài đất Việt lại chưa được sử dụng! Một trong những nguyên nhân quan trọng tạo ra tình trạng đó là do căn bệnh sợ người tài hãy còn tồn tại nặng nề trong nhận thức và tư duy của nhiều cấp, nhiều ngành.
Tô Vũ Tuấn Anh @ 00:45 09/07/2011
Số lượt xem: 389
- Hãy đáng mặt là đàn ông Việt! (04/07/11)
- Cay đắng cử nhân 2 bằng giỏi bán trà đá (29/06/11)
- Trí thức và một vài đặc điểm của trí thức (28/06/11)
- Những giả thuyết ngây thơ (28/06/11)
- Biển Đông và chuyện “con ếch chịu nóng” (28/06/11)