Đề thi học kì I - Sử 10 - chuyenquangtrung

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Tô Vũ Tuấn Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:52' 18-12-2009
Dung lượng: 24.6 KB
Số lượt tải: 17
Người gửi: Tô Vũ Tuấn Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:52' 18-12-2009
Dung lượng: 24.6 KB
Số lượt tải: 17
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BÌNH PHƯỚC
TRƯỜNG THPT CHUYÊN QUANG TRUNG
ĐÁP ÁN ĐỀ THI HỌC KÌ I (Năm học 2009 – 2010)
Môn: Lịch sử (Khối 10)
PHẦN CHUNG (7 ĐIỂM)
NỘI DUNG
ĐIỂM
Mô tả xã hội cổ đại phương Đông.
2 điểm
Nhu cầu của công tác trị thuỷ các dòng sông và xây dựng các công trình thuỷ lợi đã khiến những người nông dân gắn bó và ràng buộc với nhau trong khuôn khổ của công xã nông thôn. Các thành viên của công xã được gọi là nông dân công xã.
0,5
Nông dân công xã là bộ phận đông đảo nhất, có vai trò to lớn trong sản xuất. Họ nhận ruộng đất ở công xã để canh tác, song phải nộp một phần sản phẩm thu hoạch được và làm không công cho quý tộc.
0,5
Trong quá trình phân hoá xã hội, đứng đầu giai cấp thống trị là những ông vua chuyên chế và đội ngũ đông đảo quý tộc, quan lại, chủ ruộng đất và tầng lớp tăng lữ. Đó là tầng lớp có nhiều của cải và quyền thế, giữ chức vụ tôn giáo hoặc quản lí bộ máy nhà nước, địa phương... Họ sống giàu sang bằng sự bóc lột, bổng lộc do nhà nước cấp và do chức vụ đem lại.
0,5
Nô lệ là tầng lớp thấp nhất trong xã hội. Họ có nguồn gốc là những tù binh bị bắt trong chiến tranh hay những nông dân nghèo không trả được nợ. Họ chuyên làm các việc nặng nhọc và hầu hạ tầng lớp quý tộc.
0,5
Cư dân phương Đông thời cổ đại đã có những đóng góp gì về mặt văn hoá cho nhân loại?
5 điểm
Lịch pháp và Thiên văn học
1 điểm
Những tri thức Thiên văn học và Lịch pháp ra đời vào loại sớm nhất các quốc gia cổ đại phương Đông. Nó gắn liền với nhu cầu sản xuất nông nghiệp.
0,5
Để cày cấy đúng thời vụ, những người nông dân luôn phải "trông trời, trông đất". Dần dần, họ biết đến sự chuyển động của Mặt Trời, Mặt Trăng. Đó là những tri thức đầu tiên về thiên văn. Từ tri thức đó, người phương Đông sáng tạo ra lịch. Đây cũng là cơ sở để người ta tính chu kì thời gian và mùa.
0,5
Chữ viết
2 điểm
Sự phát triển của đời sống làm cho quan hệ của xã hội loài người trở nên phong phú, đa dạng; người ta cần ghi chép và lưu giữ những gì đã diễn ra. Chữ viết ra đời bắt nguồn từ nhu cầu đó. Chữ viết là một phát minh lớn của loài người.
0,5
Lúc đầu, chữ viết chỉ là hình vẽ những gì mà họ muốn nói, sau đó họ sáng tạo thêm những kí hiệu biểu hiện khái niệm trừu tượng.Chữ viết theo cách đó gọi là chữ tượng hình.
0,5
Sau này, người ta cách điệu hoá chữ tượng hình thành nét và ghép các nét theo quy ước để phản ánh ý nghĩ của con người một cách phong phú hơn gọi là chữ tượng ý. Chữ tượng ý chưa tách khỏi chữ tượng hình mà thường được ghép với một thanh để phản ánh tiếng nói, tiếng gọi có âm sắc, thanh điệu của con người.
0,5
Người Ai Cập viết chữ trên giấy papirút, người Lưỡng Hà viết chữ trên đất sét nung khô, người Trung Quốc viết chữ trên xương thú, mai rùa, thẻ tre, lụa,...
0,5
Toán học
1 điểm
Do nhu cầu tính toán lại ruộng đất sau khi ngập nước, tính toán trong xây dựng nên Toán học xuất hiện rất sớm ở phương Đông.
0,25
Cư dân phương Đông biết viết chữ số từ 1 đến 1 triệu bằng những kí hiệu đơn giản. Người Ai Cập cổ đại rất giỏi về hình học. Họ tính được số Pi bằng 3,16; tính được diện tích hình tròn, hình tam giác, thể tích hình cầu... Còn người Lưỡng Hà giỏi về số học. Họ có thể làm các phép cộng, trừ, nhân, chia cho tới một triệu. Chữ số mà ta dùng ngày nay, quen gọi là chữ số A-rập, kể cả số 0 là thành tựu do người Ấn Độ tạo nên.
0,5
Những hiểu biết về toán học của người xưa đã để lại nhiều kinh nghiệm quý, chuẩn bị cho những bước phát triển cao hơn ở thời sau.
0,25
Kiến trúc
1 điểm
Trong nền văn minh cổ đại phương Đông, nghệ thuật kiến trúc phát triển rất phong phú. Nhiều di tích kiến trúc cách đây hàng nghìn năm vẫn còn lưu lại như Kim tự tháp ở Ai Cập, những khu đền tháp ở Ấn Độ, thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà,..
TRƯỜNG THPT CHUYÊN QUANG TRUNG
ĐÁP ÁN ĐỀ THI HỌC KÌ I (Năm học 2009 – 2010)
Môn: Lịch sử (Khối 10)
PHẦN CHUNG (7 ĐIỂM)
NỘI DUNG
ĐIỂM
Mô tả xã hội cổ đại phương Đông.
2 điểm
Nhu cầu của công tác trị thuỷ các dòng sông và xây dựng các công trình thuỷ lợi đã khiến những người nông dân gắn bó và ràng buộc với nhau trong khuôn khổ của công xã nông thôn. Các thành viên của công xã được gọi là nông dân công xã.
0,5
Nông dân công xã là bộ phận đông đảo nhất, có vai trò to lớn trong sản xuất. Họ nhận ruộng đất ở công xã để canh tác, song phải nộp một phần sản phẩm thu hoạch được và làm không công cho quý tộc.
0,5
Trong quá trình phân hoá xã hội, đứng đầu giai cấp thống trị là những ông vua chuyên chế và đội ngũ đông đảo quý tộc, quan lại, chủ ruộng đất và tầng lớp tăng lữ. Đó là tầng lớp có nhiều của cải và quyền thế, giữ chức vụ tôn giáo hoặc quản lí bộ máy nhà nước, địa phương... Họ sống giàu sang bằng sự bóc lột, bổng lộc do nhà nước cấp và do chức vụ đem lại.
0,5
Nô lệ là tầng lớp thấp nhất trong xã hội. Họ có nguồn gốc là những tù binh bị bắt trong chiến tranh hay những nông dân nghèo không trả được nợ. Họ chuyên làm các việc nặng nhọc và hầu hạ tầng lớp quý tộc.
0,5
Cư dân phương Đông thời cổ đại đã có những đóng góp gì về mặt văn hoá cho nhân loại?
5 điểm
Lịch pháp và Thiên văn học
1 điểm
Những tri thức Thiên văn học và Lịch pháp ra đời vào loại sớm nhất các quốc gia cổ đại phương Đông. Nó gắn liền với nhu cầu sản xuất nông nghiệp.
0,5
Để cày cấy đúng thời vụ, những người nông dân luôn phải "trông trời, trông đất". Dần dần, họ biết đến sự chuyển động của Mặt Trời, Mặt Trăng. Đó là những tri thức đầu tiên về thiên văn. Từ tri thức đó, người phương Đông sáng tạo ra lịch. Đây cũng là cơ sở để người ta tính chu kì thời gian và mùa.
0,5
Chữ viết
2 điểm
Sự phát triển của đời sống làm cho quan hệ của xã hội loài người trở nên phong phú, đa dạng; người ta cần ghi chép và lưu giữ những gì đã diễn ra. Chữ viết ra đời bắt nguồn từ nhu cầu đó. Chữ viết là một phát minh lớn của loài người.
0,5
Lúc đầu, chữ viết chỉ là hình vẽ những gì mà họ muốn nói, sau đó họ sáng tạo thêm những kí hiệu biểu hiện khái niệm trừu tượng.Chữ viết theo cách đó gọi là chữ tượng hình.
0,5
Sau này, người ta cách điệu hoá chữ tượng hình thành nét và ghép các nét theo quy ước để phản ánh ý nghĩ của con người một cách phong phú hơn gọi là chữ tượng ý. Chữ tượng ý chưa tách khỏi chữ tượng hình mà thường được ghép với một thanh để phản ánh tiếng nói, tiếng gọi có âm sắc, thanh điệu của con người.
0,5
Người Ai Cập viết chữ trên giấy papirút, người Lưỡng Hà viết chữ trên đất sét nung khô, người Trung Quốc viết chữ trên xương thú, mai rùa, thẻ tre, lụa,...
0,5
Toán học
1 điểm
Do nhu cầu tính toán lại ruộng đất sau khi ngập nước, tính toán trong xây dựng nên Toán học xuất hiện rất sớm ở phương Đông.
0,25
Cư dân phương Đông biết viết chữ số từ 1 đến 1 triệu bằng những kí hiệu đơn giản. Người Ai Cập cổ đại rất giỏi về hình học. Họ tính được số Pi bằng 3,16; tính được diện tích hình tròn, hình tam giác, thể tích hình cầu... Còn người Lưỡng Hà giỏi về số học. Họ có thể làm các phép cộng, trừ, nhân, chia cho tới một triệu. Chữ số mà ta dùng ngày nay, quen gọi là chữ số A-rập, kể cả số 0 là thành tựu do người Ấn Độ tạo nên.
0,5
Những hiểu biết về toán học của người xưa đã để lại nhiều kinh nghiệm quý, chuẩn bị cho những bước phát triển cao hơn ở thời sau.
0,25
Kiến trúc
1 điểm
Trong nền văn minh cổ đại phương Đông, nghệ thuật kiến trúc phát triển rất phong phú. Nhiều di tích kiến trúc cách đây hàng nghìn năm vẫn còn lưu lại như Kim tự tháp ở Ai Cập, những khu đền tháp ở Ấn Độ, thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà,..
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓





